Search by category:

Viêm kết mạc cấp

I. Đại cương

Kết mạc là một màng mỏng, bao phủ mặt trong của mi và một phần của nhãn cầu. Kết mạc có 3 phần kết mạc sụn mi, kết mạc túi cùng và kết mạc nhãn cầu.
Viêm kết mạc là bệnh viêm của màng kết mạc tại mắt.

Viêm kết mạc có 3 thể là cấp tính, bán cấp và mãn tính. Viêm kết mạc do nhiều nguyên nhân gây nên: Vi khuẩn, virus, do dị ứng. Trong bài này chúng tôi chỉ đề cập đến viêm kết mạc cấp mà mọi người quen gọi là bệnh đau mắt đỏ.

Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, có thể xảy ra ở một mắt nhưng đa số bị bệnh ở cả hai mắt, thông thường một mắt phát bệnh trước vài ngày sau mới phát bệnh ở mắt thứ hai. Nếu điều trị không thích hợp thì thời gian mắc bệnh sẽ kéo dài kèm theo những tổn thương trên giác mạc gây giảm thị lực.

Theo thống kê của một số nước, tỷ lệ mắc bệnh viêm kết mạc cấp khoảng 0,05 – 1,10% trong tổng số toàn bộ dân số, nhưng trong các môi trường có sự tiếp xúc gần gũi giữa người có bệnh và người không có bệnh, như công sở, trường học thì tỷ lệ này tăng đột biến 10 – 30%.

Đường lây lan bệnh có thể do tiếp xúc trực tiếp với các chất tiết của mắt thông qua khăn rửa mặt, quần áo, nước bể bơi hoặc lây qua tay người bệnh với người chưa mắc bệnh.

II. Nguyên nhân gây bệnh

Có hai loại virus gây bệnh là Adenovirus và Enterovirus.
– Adenovirus có thể gây rất nhiều bệnh ở kết mạc và giác mạc. Có đến 10/32 serotyp của Adenovirus có thể gây bệnh ở mắt. Hai hình thái hay gặp nhất là viêm kết mạc kèm sốt, viêm họng-hạch và viêm kết giác mạc thành dịch.
– Tác nhân gây bệnh do Enterovirus là enterovirus 70 (thuộc nhóm Picornavirus)

III. Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng cơ năng

– Đỏ mắt do cương tụ các mạch máu nông ở kết mạc.
– Cộm mắt như có cát trong mắt
– Chói mắt, chảy nước mắt.
– Nhiều rử mắt, đặc biệt là buổi sáng khi ngủ dậy.
– Đặc biệt thị lực không giảm ở giai đoạn đầu mắc bệnh.
– Mi mắt có thể sưng nề và xung huyết.

Triệu chứng thực thể

– Kết mạc phù và xung huyết.
– Phản ứng hột, nhú do viêm.
– Có thể có hoặc không có xuất huyết kết mạc hay màng giả mạc.
– Nhiều tiết tố trong túi kết mạc và ở bờ mi.

Dấu hiệu toàn thân

Biểu hiện gần giống bệnh cúm do virus

– Sốt nhẹ 37 – 38 độ C.
– Viêm đường hô hấp trên: Ngứa họng, ho, hắt hơi.
– Sưng hạch dưới hàm hoặc hạch trước tai.

Giai đoạn có tổn thương giác mạc

– Khám mắt thấy tổn thương trên biểu mô giác mạc dạng chấm, thâm nhiễm dưới biểu mô. Cá biệt có trường hợp trợt giác mạc rộng.

IV. Chẩn đoán phân biệt

Bệnh viêm kết mạc cấp cần chuẩn đoán phân biệt với một số bệnh nguy hiểm gây giảm hoặc mất thị lực sau:
– Viêm màng bồ đào
– Glocom hay bệnh thiên đầu thống.

V. Điều trị

Hiện tại chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Điều trị chỉ nhằm mục đích hỗ trợ với các thuốc:
– Kháng sinh tra mắt để chống bội nhiễm vi khuẩn: thí dụ dung dịch Gentamycin 0,3%, dung dịch Tobramycin 0,3%, Cloroxit 0,4%…
– Chườm lạnh hoặc dùng các thuốc có chứa thuốc co mạch tại chỗ có thể làm giảm triệu chứng.
– Không nên dùng các loại thuốc tra mắt có chứa Corticiod như dung dịch Polydexa, Tobradex, Dexaclor,…khi tra có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa mắt để tránh biến chứng của thuốc. Nếu dùng Corticoid khi có sự theo dõi của bác sĩ nhãn khoa với liều lượng rất nhỏ và không dừng đột ngột để tránh không làm nặng thêm hoặc tái phát hiện tượng thâm nhiễm dưới biểu mô.
– Nếu có giả mạc nên đến cơ sở y tế để bóc giả mạc tránh biến chứng dính mi mắt với nhãn cầu, tắc điểm lệ hoặc tắc lệ quản.
– Bổ sung vitamin C theo đường uống hoặc uống nước cam, nước chanh.

VI. Cách phòng tránh mắc bệnh và lây bệnh

– Cách ly bệnh nhân: Thời gian cách ly tối thiểu là 7 ngày. Bệnh nhân chỉ nên ở nhà tra thuốc, tránh tiếp xúc trực tiếp với người khác. Nếu có biểu hiện viêm đường hô hấp trên nên đeo khẩu trang.
– Khi rửa mặt cần dùng khăn riêng, chậu riêng, nên giặt khăn bằng xà phòng.
– Các dụng cụ y tế dùng để khám chữa mắt cần sát trùng cẩn thận để tránh lây lan.
– Khi có dịch cần hạn chế các cuộc họp, tạm đóng cửa các bể bơi công cộng, ngoài vụ dịch thì bể bơi công cộng cũng cần sát trùng đầy đủ bằng Clo.

Chú ý không điều trị theo các phương pháp phản khoa học như đắp lá, xông nước lá trầu không. Các phương pháp này dễ gây nhiễm khuẩn cho mắt và gây bỏng mắt do sức nóng, làm cho tính chất bệnh càng phức tạp, khó điều trị hơn.

BS Vũ Huy Quang( BV Mắt TW)


Trung bình: 8 /10 (152 lượt đánh giá )

Bài viết đã đăng ký bản quyền nội dung số.
Mọi sao chép phải tuân thủ quy định của NKB

Bài viết đã được đăng ký bản quyền (DMCA). Nếu copy nội dung hãy để lại link về bài gốc hoặc ghi rõ nguồn nhatkybe.vn như một sự tri ân với tác giả.
Copyright © 2022 | nhatkybe.vn | All Rights Reserved. DMCA.com Protection Status