Search by category:
Tin tức

Những điều cần biết về toan hô hấp

1. Nguyên nhân

Bệnh do một hay nhiều nguyên nhân trước hết là do ức chế trung tâm hô hấp do thuốc, ngưng thở lúc ngủ, béo phì, bệnh lý thần kinh trung ương; do bệnh lý thần kinh cơ (nhược cơ trầm trọng, hội chứng Guillian Barre, giảm kali máu, bệnh lý cơ); tắc nghẽn đường hô hấp trên; cũng có thể do bệnh lý của phổi như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, phù phổi, khí phế thũng, viêm phổi; giảm thông khí cơ học.

Phải xác định sự thay đổi nồng độ H+ có phù hợp với pCO2 không để phân biệt bệnh lý cấp hay mạn. Mỗi mmHg tăng thêm khi pCO2 trên 40 mmHg, tương ứng với sự giảm pH 0.008 (cấp) và 0.003 (mạn). Đáp ứng của thận chỉ xảy ra sau vài ngày tạo nên sự tăng tiết axit và tăng nồng độ HCO3- trong máu.

2. Triệu chứng và chẩn đoán

 

Bệnh nhân mệt mỏi, nhức đầu, dấu hiệu cơ năng của các nguyên nhân yếu liệt chi, nuốt khó.

Bệnh nhân có các dấu hiệu của toan hô hấp lâm sàng chủ yếu là các dấu hiệu bệnh lý của não do chuyển hóa gồm nhức đầu, lừ đừ, hôn mê, run giật cơ nhiều ổ, có thể kèm giãn các tĩnh mạch võng mạc và phù gai thị do tăng áp lực nội sọ.

Tim mạch giai đoạn đầu mạch nhanh, huyết áp tăng sau đó mạch yếu và huyết áp giảm. Da lúc đầu đỏ do giãn mạch, vã mồ hôi làm che mất dấu hiệu tím tái.

Để chẩn đoán bệnh, bác sĩ sẽ tìm các dấu hiệu suy hô hấp như thở nhanh, rút lõm ngực, thở ngực-bụng ngược chiều (liệt cơ hô hấp) hoặc các dấu hiệu gợi ý nguyên nhân như yếu liệt cơ do sốt bại liệt, nhược cơ, hội chứng Guillian Barre; suyễn, viêm phổi nặng, tràn màng khí phổi; tắc nghẽn vùng thanh quản, khí quản.

Nếu bệnh nhân có tiền căn suyễn, hô hấp mạn tính thì đó cũng là một trong những cơ sở quan trọng để chấn đoán.

Các xét nghiệm được tiến hành gồm khí máu động mạch, và xét nghiệm chẩn đoán nguyên nhân. Các xét nghiệm cho thấy khí máu pH (dưới 7,35), paCO2 (trên 45mmHg), HCO3- (trên 26mmHg). Điện giải đồ Na+, K+ tăng, Cl máu giảm, nước tiểu  toan, pH dưới 5,5.

3. Điều trị

Điều trị bệnh chủ yếu là điều trị nguyên nhân gây suy hấp và cải thiện thông khí. Sử dụng muối axit NaHCO3 có thể làm kịch phát tình trạng phù phổi, tăng thán dẫn đến kiềm chuyển hóa.

 

Tuy nhiên một số bệnh hen ác tính thở máy có toan máu nặng (pH dưới 7,15) có thể dụng liều nhỏ NaHCO3 44 -88 mEq/l/. Trong suy hô hấp mạn tính cần lưu ý một số điểm sau:

Hầu hết bệnh nhân dung nạp với pCO2 (phân áp cacbon đioxit trong máu) cao và yếu kích thích hô hấp chính là tình trạng giảm oxy máu.

Do đó chỉ nên cung cấp oxy với nồng độ ở mức thấp nhất để nâng paO2 (áp lực riêng phần của oxy trong máu động mạch) ở mức chấp nhận được trên 50 (mmHg), tránh nâng paO2 tăng cao đột ngột sẽ gây ức chế hô hấp.

Nếu bệnh nhân suy hô hấp mạn tính đang được giúp thở cũng cần thận trọng làm giảm paCO2 từ từ, tránh giảm đột ngột sẽ gây kiềm máu nặng, làm đường cong phân ly oxyhemoglobin chuyển trái và gây co thắt mạch máu não, có thể dẫn đến co giật và tử vong.

Toan hô hấp có phối hợp toan kiềm hoặc kiềm chuyển hóa, điều trị phải trên nguyên tắc điều chỉnh nguyên nhân của từng rối loạn. 

Ban biên tập Nhật ký bé
Kiểm duyệt bởi Ban cố vấn Nhật ký bé


Trung bình: 8 /10 (70 lượt đánh giá )

Bài viết đã đăng ký bản quyền nội dung số.
Mọi sao chép phải tuân thủ quy định của NKB

Bài viết đã được đăng ký bản quyền (DMCA). Nếu copy nội dung hãy để lại link về bài gốc hoặc ghi rõ nguồn nhatkybe.vn như một sự tri ân với tác giả.
Copyright © 2022 | nhatkybe.vn | All Rights Reserved. DMCA.com Protection Status