Search by category:

Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ dẫn đến cận thị

1. Nguyên nhân

Cận thị gây ra bởi sự mất cân bằng giữa trục trước sau của nhãn cầu và lực quang học của mắt khiến cho ảnh hội tụ trước võng mạc chứ không phải trên võng mạc. Điều đó có nghĩa người bị tật không thể nhìn thấy rõ ràng bởi vì ánh sáng đi vào mắt không uốn cong (khúc xạ) đúng cách.

Cơ chế gây ra cận thị như sau:

Để tập trung những hình ảnh trước mắt, mắt dựa vào hai phần quan trọng: Các giác mạc với bề mặt rõ ràng và các ống kính (một cấu trúc trong mắt thay đổi hình dạng để giúp các đối tượng tập trung).

Đối với một con mắt bình thường, mỗi hình sẽ tập trung được vào những yếu tố này bằng một đường cong hoàn hảo, mịn như bề mặt một quả bóng. Giác mạc và ống kính với độ cong như bẻ cong (khúc xạ) tất cả ánh sáng đến theo cách như vậy là để tạo ra một hình ảnh mạnh tập trung vào võng mạc, ở phía sau mắt.

Tuy nhiên, nếu giác mạc hoặc ống kính không đồng đều và nhẹ nhàng uốn cong, tia sáng khúc xạ không đúng sẽ gây tật khúc xạ. Cận thị là một loại tật khúc xạ.

Cận thị có thể xảy ra khi giác mạc cong quá nhiều hoặc khi trục nhãn cầu dài hơn bình thường. Thay vì tập trung chính xác trên võng mạc, ánh sáng tập trung ở phía trước của võng mạc, kết quả là xuất hiện mờ cho các đối tượng ở xa.

Cho đến nay vẫn còn khá nhiều những tranh cãi xung quanh lý do gây cận thị khúc xạ. Tuy nhiên, người ta vẫn nhấn mạnh đến một số lý do sau:

– Do lối sống: Trong một nghiên cứu mới đây, các nhà nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Úc đã nhận thấy tỷ lệ cận thị đang gia tăng ở các nước châu Á, trong đó Đông Á dẫn đầu.

Nghiên cứu cũng cho thấy 90% học sinh Đông Á bị cận thị là do thiếu ánh sáng tự nhiên, trong khi đó, tỷ lệ này trước đó là chỉ 20-30%. Đó là do học sinh phải học quá nhiều, ở trường và ở nhà, làm cho mắt không được tiếp xúc nhiều với ánh sáng tự nhiên.

Bên cạnh đó, ở lứa tuổi học sinh, nhu cầu ăn, ngủ, sinh hoạt điều độ của các em rất cao để đảm bảo cho sự phát triển nhanh chóng của cơ thể. Tuy nhiên các em thường bị thiếu ngủ do áp lực của việc học hành, đọc sách, xem tivi hay chơi game… Điều này cũng là nguyên nhân dẫn đến cận thị.

Ăn uống thiếu chất, tiếp xúc thường xuyên với các phương tiện hiện đại như máy tính, tivi, iPad, điện thoại, tư thế ngồi sai, đọc và nghiên cứu quá nhiều, moi trường sống ô nhiễm,  ít tiếp xúc với thiên nhiên… đang là nguyên nhân phổ biến khiến tỷ lệ cận thị ở châu Á, Đông Á, trong đó có Việt Nam đang dẫn đầu thế giới.

– Do trẻ sinh thiếu tháng hoặc nhẹ cân: Nghiên cứu cho thấy trẻ sinh ra có cân nặng nhẹ hơn 2,5kg, hoặc trẻ sinh thiếu tháng, đến tuổi đi học các em có khả năng bị cận thị cao hơn các bạn cùng trang lứa.

– Do di truyền: Qua nhiều nghiên cứu, các chuyên gia nhận thấy có mối liên hệ giữa các giống người với bệnh cận thị. Tỷ lệ cận thị rất thay đổi tùy theo giống người.

Ví dụ như người Anhđiêng ở Mêhicô hầu như không bao giờ bị cận thị, dân tộc Palinêgrít ở Châu Phi tỷ lệ bị cận thị rất thấp (0.14%). Ngược lại, các giống người Anhđu (Châu Á), Đức (Châu Âu) bị cận thị nhiều hơn.

Bố mẹ bị cận thị rất dễ di truyền sang con cái. Mức độ di truyền liên quan mật thiết với mức độ cận thị của bố mẹ. Nếu bố mẹ bị cận thị dưới 3 đi-ốp thì khả năng di truyền sang con rất nhỏ. Nhưng nếu bố mẹ bị cận thị từ 6 đi-ốp trở lên thì khả năng di truyền sang con cái rất lớn, thậm chí là 100%.

Đối với cận thị bệnh lý, ttrước sau của nhãn cầu quá dài trong khi công suất của quang hệ bình thường. Loại cận thị này thường có tính chất gia đình và thường xảy ra rất sớm ngay khi trẻ còn nhỏ tuổi, chưa đi học. Ngoài ra trong quá trình thai nghén, người mẹ bị mắc một số bệnh hoặc thiếu một số chất cũng có thể gây ra chứng cận thị cho trẻ.

2. Các yếu tố nguy cơ

 

– Yếu tố gia đình: Cận thị có xu hướng trong gia đình. Nếu một trong cha mẹ là cận thị nặng, nguy cơ cận thị đang phát triển tăng lên. Nguy cơ thậm chí còn cao hơn nếu cả hai cha mẹ cận thị nặng. Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng 33 đến 60% trẻ em bị cận thị có cả cha và mẹ bị cận thị

– Yếu tố khối lượng công việc ở thị giác gần: Đọc sách hoặc làm các công việc nhìn gần.

– Giác mạc quá cong hoặc chỉ số giữa chiều dài trục trước sau của nhãn cầu và độ cong giác mạc trên 3.0.

– Các bệnh lý gây cản trở việc tạo hình ảnh võng mạc rõ nét như: U máu ở mi mắt, đục giác mạc, bệnh võng mạc trẻ đẻ non…

– Sinh non: Trẻ sinh non có nhiều khả năng có điều kiện mắt, có thể ảnh hưởng đến hình dáng của mắt, tăng nguy cơ cận thị.

– Làm việc. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có mối liên hệ của cận thị giữa những người làm nhiều việc bằng mắt hoặc để mắt quá gần như đọc, chơi và xem các đồ điện tử…

Ban biên tập Nhật ký bé
Kiểm duyệt bởi Ban cố vấn Nhật ký bé


Trung bình: 8 /10 (131 lượt đánh giá )

Bài viết đã đăng ký bản quyền nội dung số.
Mọi sao chép phải tuân thủ quy định của NKB

Bài viết đã được đăng ký bản quyền (DMCA). Nếu copy nội dung hãy để lại link về bài gốc hoặc ghi rõ nguồn nhatkybe.vn như một sự tri ân với tác giả.
Copyright © 2022 | nhatkybe.vn | All Rights Reserved. DMCA.com Protection Status