Search by category:

Điều trị xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch

Tuy nhiên thực tế, các biến chứng có nhiều khả năng phát sinh từ phương pháp điều trị gây ra những rủi ro tiềm năng nghiêm trọng hơn là bản thân bệnh. Nguyên tắc điều trị bệnh là: ức chế miễn dịch; điều trị triệu chứng; chăm sóc theo dõi.

1. Điều trị ức chế miễn dịch

Hai loại thuốc ức chế miễn dịch thường được sử dụng là corticosteroid và tiêm tĩnh mạch gamaglobulin. Corticosteroid giúp ức chế thực bào các tiểu cầu có gắn kháng thể ở lách, kéo dài đời sống tiểu cầu; cải thiện sức bền mao mạch làm cải thiện cơ cấu tiểu cầu; ức chế sinh kháng thể tiểu cầu.

Tiêm gamaglobulin tĩnh mạch làm nghẽn thụ thể Fc hệ thống liên võng nội mô, giảm sinh tự kháng thể, bảo vệ tiểu cầu, đồng thời, thanh thải nhiễm virus kéo dài do truyền kháng thể đặc hiệu. 

Xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch cấp tính:

Thể này bao gồm nhiều cấp độ và mỗi cấp độ sẽ có cách ứng xử phù hợp.

Độ 1: Bệnh nhân chảy ít máu, ít xuất huyết, (khoảng 5 mảng xuất huyết trở xuống, mỗi mảng nhỏ hơn hoặc bằng 3 cm), và không có chảy máu niêm mạc. Đây là trường hợp nhẹ, bệnh nhân có thể được theo dõi tại nhà. Gia đình cần theo dõi tiến triển hay lui bệnh và thông báo cho bác sĩ khi bệnh có tiến triển nặng thêm.

Độ 2: Bệnh nhân bị chảy máu nhẹ, nhiều xuất huyết (trên 5 mảng xuất huyết, mỗi mảng đường kính trên 3cm). Đây vẫn chưa phải là mức độ cần thiết phải điều trị. Bệnh nhân cần theo dõi tại nhà theo chỉ dẫn của bác sĩ. Một số trường hợp gia đình không có khả năng theo dõi sát thì có thể cho nhập viện.

.

Độ 3: Bệnh nhân chảy máu ở mức độ trung bình, chảy máu niêm mạc rõ, ảnh hưởng tới sinh hoạt, sức khỏe.

Độ 4: nặng hơn, bệnh nhân chảy máu niêm mạc và nghi ngờ chảy máu trong thì cần phải được điều trị ngay.

Với trẻ dưới 5 tuổi: Dùng Methylprednisolon 4mg/kg trong 4 ngày, giảm liều dần đến 7 ngày. Trẻ trên 5 tuổi, uống Prednisolon 2mg/kg trong tối đa 2 tuần.

Sau đó nếu tiểu cầu trên 30.000, quan sát và theo dõi, 2-4 tuần một lần cho đến khi tiểu cầu về bình thường. Nếu tiểu cầu dưới 30.000 và không có xuất huyết mới thì theo dõi còn nếu vẫn có xuất huyết mới, chảy máu từ độ 3 trở lên thì điều trị Methylprednisolon 30mg/kg trong 3 ngày (Không dùng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi)

 

Xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch dai dẳng hoặc mạn tính:

Bệnh nhi có tiểu cầu dưới 30.000 và có các biểu hiện độ 3 hoặc bệnh nhi có biểu hiện độ 4: Dexamethasone 28mg/m2/1 ngày Hoặc Methylprednisolon 30mg/kg  3 ngày sau đó 20mg/kg 4 ngày. Hoặc chất ức chế miễn dịch khác (dùng đơn lẻ hoặc kết hợp).

Cắt lách

Chỉ định: Xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch thể nặng có nguy cơ chảy máu đe dọa tính mạng, không đáp ứng với điều trị bằng thuốc; Thể mạn tính, có biểu hiện chảy máu trên lâm sàng, tiểu cầu luôn dưới 30G/L, không đáp ứng với thuốc trong vài năm; Các bệnh nhân hoạt động dễ có chấn thương, có thể chẩn đoán cắt lách để dự phòng và trẻ lớn hơn 5 tuổi.

Vì nguy cơ có nhiễm khuẩn nặng sau cắt lách cao cho nên cần có chỉ định thận trọng, ít khi chỉ định cắt lách trước 2 năm sau khi có chẩn đoán bệnh, bởi vì xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch có thể lui bệnh tự nhiên sau 4-5 năm, dễ kiểm soát bằng điều trị nội khoa.

Nguy cơ sau cắt lách: Nguy cơ chính sau cắt lách là nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn huyết do Streptococcus pneumonia, hemophilia influenza, Neisseria meningitids. Để giảm bớt nguy cơ nhiễm khuẩn nặng sau cắt lách nên cho tiêm chủng vacxin phòng phế cầu, HI, tốt nhất 2 tuần trước cắt lách.

Với bệnh nhân ít đáp ứng với chủng vacxin có thể dự phòng bằng kháng sinh đồng thời hướng dẫn gia đình chăm sóc sau phẫu thuật, dự phòng và phát hiện sớm nhiễm khuẩn.

Chuẩn bị trước phẫu thuật cắt lách: Cho corticosteroid ngay trước trong và sau vài ngày sau cắt lách, để đề phòng có tình trạng ức chế thượng thận sau cắt lách. Với bệnh nhân có chảy máu nên truyền máu toàn phần và tiểu cầu, cũng như cho Methylprednisolon 500mg/m2/ngày tĩnh mạch ngay trước khi phẫu thuật.

Tiên lượng: Khoảng 50% bệnh nhân hồi phục hoàn toàn và kéo dài sau cắt lách. Sau cắt lách tiểu cầu tăng tức khắc, có thể trên 800G/L trong 1-2 tuần đầu sau đó trở về bình thường. Hiện tượng tăng tiểu cầu này thường không gây tăng nguy cơ huyết khối nên không cần điều trị.

Nếu tiểu cầu sau cắt lách đạt trên mức 500G/L có khả năng lui bệnh dài. Nếu sau cắt lách tiểu cầu lại giảm trở lại có thể có lách phụ hoặc do thực bào ở hệ thống liên võng nội mô ngoài lách.

Gạn huyết tương

Chỉ định: Xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch có nguy cơ chảy máu đe dọa tính mạng mặc dù đã được điều trị nội khoa và cắt lách. Mục đích loại bỏ nhanh kháng thể kháng tiểu cầu khỏi tuần hoàn.

2. Điều trị triệu chứng:

Cầm máu tại chỗ bằng băng ép vết thương chảy máu, nếu chảy máu mũi, nút mũi bằng gelaspon hay gạc. Chảy máu chân răng thì ép bông có tẩm adrenalin.

Truyền khối tiểu cầu khi xuất huyết nặng có nguy cơ chảy máu đe dọa tính mạng, hoặc có triệu chứng thần kinh hay nghi ngờ xuất huyết nội sọ. Liều: 1 đvị/5-10 kg cân nặng. Truyền 1 đvị khối tiểu cầu/5kg đưa tiểu cầu lên 100.000/mm3 trong 1 giờ. 1 đvị khối tiểu cầu có 5.1010 tiểu cầu,107 BC và 35 ml huyết tương.

Nếu không có khối tiểu cầu hoặc có kèm theo thiếu máu nặng thì truyền máu tươi 20ml/kg/lần. Chú ý lọ và dây truyền cần được tráng silicon để tránh bám dính tiểu cầu.

           

Nếu xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch chảy máu đe dọa tính mạng: Truyền tiểu cầu Solumedrol 500mg/m2 tĩnh mạch/ngày chia 3 liều Gamaglobulin tĩnh mạch 2g/kg. Hoặc cắt lách cấp cứu. Có thể phối hợp những biện pháp trên tùy theo mức độ nặng và đáp ứng điều trị.

Ban biên tập Nhật ký bé
Kiểm duyệt bởi Ban cố vấn Nhật ký bé


Trung bình: 8 /10 (53 lượt đánh giá )

Bài viết đã đăng ký bản quyền nội dung số.
Mọi sao chép phải tuân thủ quy định của NKB

Bài viết đã được đăng ký bản quyền (DMCA). Nếu copy nội dung hãy để lại link về bài gốc hoặc ghi rõ nguồn nhatkybe.vn như một sự tri ân với tác giả.
Copyright © 2022 | nhatkybe.vn | All Rights Reserved. DMCA.com Protection Status