Search by category:
Tin tức

Điều trị thoát vị rốn

1. Trường hợp nhẹ

Thoát vị rốn đa phần lành tính. Nếu bệnh không kèm theo các dị tật phối hợp và không bị biến chứng, bác sĩ khuyên gia đình không cần can thiệp, vì đa số trường hợp bệnh sẽ tự khỏi khi bé được 1 tuổi.

Khi bé lớn lên, cơ thành bụng khỏe hơn và có thể đóng kín lỗ hổng thành bụng, thoát vị sẽ tự mất đi, chậm nhất là khi bé 4-5 tuổi. Khi thăm khám, bác sĩ có thể dễ dàng đẩy khối thoát vị vào ổ bụng, tuy nhiên cũng không nên cố gắng làm điều này, mà để thành bụng tự thực hiện công việc của nó theo một cơ chế tự nhiên.

Gia đình cũng không nên áp dụng các phương pháp dân gian như đặt đồng xu hay dùng băng dính dán lên vùng thoát vị giúp đẩy nhanh quá trình lành bệnh. Nghiên cứu cho thấy, lỗ hổng thành bụng gây thoát vị sẽ tự đóng nhanh tương tự khi không dùng các phương pháp trên.

Thậm chí việc dùng băng dính, đồng xu hoặc các loại băng ép còn làm tình hình xấu đi, chẳng hạn gây nhiễm trùng hoặc ngăn cản dòng máu tới nuôi tổ chức bên trong khối thoát vị.

Để đẩy nhanh quá trình liền lại chỗ thoát vị, bố mẹ nên thực hiện các động tác massage nhẹ nhàng cho bé. Cố gắng giữ gìn vệ sinh thật sạch sẽ, khô ráo cho vùng rốn, sau khi tắm, nên nhỏ vài giọt nước muối sinh lý để sát trùng rồi thấm khô.

2. Chỉ định phẫu thuật và xử lý trước phẫu thuật

Phẫu thuật thường được chỉ định cho những trường hợp khối thoát vị rất lớn ở trẻ mới đẻ và trẻ lớn hơn, gây đau đớn, hoặc to lên khi bé được 1 hoặc 2 tuổi và không mất đi khi bé lên 4 hoặc trường hợp ruột bị nghẹt.

Xử lý trước phẫu thuật: Trước hết toàn bộ tổ chức lộ ra ngoài cần được cuộn phủ kín bằng một khăn choàng sạch, cần phải đánh giá và theo dõi sự thiếu máu của ruột non, đảm bảo ruột phải hồng.

Để phòng chống sự gập, nghẹt và thiếu máu của ruột, trẻ được đặt nghiêng sang một bên và ruột được đỡ bằng một chiếc khăn. Nếu màng bọc bị vỡ thì bọc ruột non vào một cái túi để tránh làm trầy màng thanh dịch của ruột.

Trường hợp không có túi bao ruột hoặc màng bọc còn nguyên vẹn thì dùng khăn nhúng nước muối sinh lý. Dùng gạc ướt với nước muối sinh lý ấm và  cuộn tròn bằng khăn vải thô xung quanh trẻ và giữ khăn đúng vị trí.

Bác sĩ sẽ đặt sonde ăn số 8 vào trong gạc cuộn đó để cung cấp nước muối sinh lí sạch tránh để khô nếu phẫu thuật không được tiến hành ngay lập tức và sau đó phủ bằng tấm nilon.

Để tránh căng bụng, bác sĩ cũng sẽ đặt một sonde dạ dày để hút liên tục chậm ở 20-40 mmHg. Thời gian này, trẻ sẽ không được bú, thay vào đó, trẻ sẽ được đặt một đường truyền tĩnh mạch ở chi trên và cung cấp đầy đủ nước và bù lại lượng nước mất vô hình.

Ngoài ra, bác sĩ sẽ tiến hành các xét nghiệm, cấy máu, điện giải, khí máu, nhóm máu và máu chéo… Tuỳ theo tình trạng nhiễm trùng của trẻ bác sĩ sẽ cho kháng sinh tĩnh mạch.

Theo dõi sát nhiệt độ, huyết áp, cân bằng nước điện giải, và toan kiềm. Vận chuyển bé bằng các phương tiện thích hợp đến nơi phẫu thuật và có khả năng chăm sóc sơ sinh sau mổ.

                                                                                                   

3. Phẫu thuật

Phẫu thuật sẽ được tiến hành ngay nếu tổn thương dưới 5 cm. Nếu tổn thương lớn thì không đóng bụng ngay được vì nó sẽ làm tăng áp lực trong khoang màng bụng dẫn đến ức chế huyết động, tim phổi, chức năng thận. Trường hợp này chỉ đóng da, để lại một thoát vị trung tâm và sẽ được tiến hành đóng sau nhiều tháng.

Một màng nhân tạo được tạo ra để cho phép ép bụng từ từ và đóng bụng sau 7-10 ngày.

4. Điều trị sau phẫu thuật

Kiểm soát các biến chứng của tăng áp lực trong ổ bụng, bao gồm ức chế hô hấp, rối loạn huyết động, cản trở tĩnh mạch chủ dưới như chi dưới bị tím, giảm tưới máu, giảm nước tiểu và toan chuyển hoá.

Phẫu thuật lại để giải phóng chèn ép là cần thiết nếu biến chứng của việc đóng ngay lần đầu là trầm trọng.

Duy trì thân nhiệt bình thường, cân bằng nước điện giải, huyết động ổn định và dẫn lưu sonde dạ dày. Khi đưa các nội tạng vào trong ổ bụng khi đóng bụng có thể gây ức chế hô hấp. Vì vậy cần theo dõi và hỗ trợ thở máy cho bé, kéo dài từ 24-72 giờ.

Bộ máy tiêu hóa có thể phục hồi chậm nếu bệnh nhân có giảm nhu động ruột và/hoặc tắc ruột kéo dài, dẫn đến chậm ăn đường miệng và kém hấp thu. Thời gian trẻ hấp thu tốt đường miệng trung bình khoảng 2-3 tuần.

Vì vậy sau phẫu thuật vẫn cần cung cấp dinh dưỡng cho trẻ bằng đường tĩnh mạch cho tới khi nuôi dưỡng hoàn toàn bằng đường miệng. Biến chứng hệ tiêu hoá thường gặp là luồng trào ngược dạ dày thực quản và viêm ruột hoại tử.

Kiểm soát đau: Dùng Morphin hoặc Fentanyl để kiểm soát đau. Kháng sinh được chỉ định dùng kéo dài tới 72 giờ sau khi phẫu thuật. Bác sĩ cần kiểm tra thường xuyên tình trạng nhiễm khuẩn và chỉ định kháng sinh theo vi khuẩn gây bệnh.

5. Biến chứng và tiên lượng

Thoát vị rốn bản chất không phải là bệnh nguy hiểm. 90% trẻ sống bình thường nếu chỉ có thoát vị rốn đơn thuần. Tuy nhiên tỷ lệ tử vong của bệnh hiện còn cao 30-40% là do các biến chứng cũng như các yếu tố khác ảnh hưởng.

Các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ tử vong bao gồm: khe hở lớn, vỡ màng bọc, cân nặng thấp, có dị tật bẩm sinh khác kèm theo, suy hô hấp sớm ngay sau sinh, đặc biệt do nhiễm khuẩn. Biến chứng chủ yếu là giảm nhu động ruột, tắc ruột, thủng tạng, luồng trào ngược dạ dày thực quản và nhiễm khuẩn.

Ban biên tập Nhật ký bé
Kiểm duyệt bởi Ban cố vấn Nhật ký bé


Trung bình: 8 /10 (150 lượt đánh giá )

Bài viết đã đăng ký bản quyền nội dung số.
Mọi sao chép phải tuân thủ quy định của NKB

Bài viết đã được đăng ký bản quyền (DMCA). Nếu copy nội dung hãy để lại link về bài gốc hoặc ghi rõ nguồn nhatkybe.vn như một sự tri ân với tác giả.
Copyright © 2022 | nhatkybe.vn | All Rights Reserved. DMCA.com Protection Status